Thời gian gần đây, giá lúa lao dốc, nông dân miền Tây đứng ngồi không yên.
Đồng bằng sông Cửu Long từ lâu được mệnh danh là vựa lúa lớn của cả nước, nơi cung cấp nguồn lương thực quan trọng cho thị trường trong nước và góp phần bảo đảm an ninh lương thực trên thế giới. Hàng triệu hộ nông dân nơi đây gắn bó với từng thửa ruộng, quanh năm chăm chút cho cây lúa với hy vọng mỗi mùa thu hoạch sẽ mang lại nguồn thu nhập ổn định, đủ trang trải cuộc sống. Thế nhưng, trong niên vụ năm 2026, bức tranh sản xuất nông nghiệp đang xuất hiện nhiều dấu hiệu đáng lo khi người trồng lúa phải đối mặt với hàng loạt khó khăn.

Tình trạng “được mùa mất giá”, thậm chí có nguy cơ “mất cả giá lẫn công”, đang khiến nhiều cánh đồng trĩu hạt trở thành nỗi lo tài chính của nông dân tại các địa phương như An Giang, Đồng Tháp, Kiên Giang, Sóc Trăng.
Cùng Gạo Tường Phát tìm hiểu kĩ hơn những khó khăn của nông dân khi giá lúa tiếp tục giảm sâu trong bài viết này nhé!
1. Bức tranh toàn cảnh về đợt sụt giảm giá lúa nghiêm trọng tại các vựa lúa miền Tây
Thực tế ghi nhận trên các cánh đồng trọng điểm của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long cho thấy một đợt biến động giá tiêu cực có quy mô diện rộng và tốc độ diễn biến nhanh chưa từng thấy trong nhiều năm trở lại đây.
Giá lúa tại các tỉnh An Giang, Đồng Tháp và các vùng lân cận trong thời gian qua đã chứng kiến mức sụt giảm đáng kinh ngạc, trung bình giảm từ 1.000 đến 1.300 đồng mỗi kg chỉ trong vòng chưa đầy nửa tháng. Sự sụt giá này diễn ra đối với hầu hết các phân khúc giống lúa, từ những giống chất lượng cao phục vụ xuất khẩu chủ lực như dòng lúa thơm ST cho đến các giống phổ thông đạt chuẩn xuất khẩu như OM18.

Tại An Giang, ban đầu các hợp đồng cọc được ghi nhận ở mức trên 7.500 đồng mỗi kilôgam lúa ST, thì khi bước vào chính vụ thu hoạch, mức giá thương lái chấp nhận giải ngân chỉ còn dao động quanh ngưỡng 6.200 đồng mỗi kilôgam. Tình trạng tương tự cũng xảy ra đối với giống lúa OM18 tại Đồng Tháp khi giá giảm đột ngột từ 6.800 đồng xuống còn 6.300 đồng mỗi kg. Mức giảm này khiến nhiều nông dân gặp khó, bởi họ đã bỏ ra gần ba tháng chăm sóc, đầu tư chi phí cho cả vụ lúa nhưng đến ngày thu hoạch lại phải bán với giá thấp hơn nhiều so với dự tính.
Biến động giá tiêu cực này nó không ra tức thời mà còn để lại những hệ lụy domino kéo dài khắp các vùng trồng khi vụ hè thu bước vào giai đoạn thu hoạch rộ. Theo các số liệu cập nhật từ cơ quan chuyên môn địa phương, tỉnh An Giang đã tiến hành thu hoạch được hơn 30.000 hecta lúa, tương đương khoảng 60% tổng diện tích xuống giống với năng suất bình quân ước tính đạt 6,16 tấn trên mỗi hecta. Cùng thời điểm đó, tỉnh Đồng Tháp cũng đã hoàn tất thu hoạch hơn 150.000 hecta trên tổng quy mô diện tích gieo cấy vượt hơn 200.000 hecta. Tốc độ thu hoạch khẩn trương của mùa vụ lại vô tình trở thành áp lực dư cung ngắn hạn tại các bến bãi thu mua đường thủy, khiến cho năng lực vận chuyển bằng ghe tàu bị tắc nghẽn cục bộ và tạo cơ hội cho đà giảm giá tiếp tục lan rộng trên quy mô toàn vùng.

Tâm lý lo lắng, bất an đang bao trùm nhiều xóm làng miền Tây khi nguồn thu chính của gia đình để trang trải cuộc sống, lo cho con cái nhập học và chuẩn bị cho vụ mùa tiếp theo bỗng bị ảnh hưởng nặng nề.
Trong sản xuất lúa, nông dân là người trực tiếp gánh chịu rủi ro từ thời tiết, sâu bệnh và chi phí đầu vào, nhưng khi đến khâu bán lúa lại thường có ít lợi thế trong việc thương lượng giá với thương lái. Do đó, giá lúa giảm mạnh khiến nhiều hộ không kịp trở tay. Với những gia đình canh tác vài hecta, khoản lợi nhuận dự tính hàng chục triệu đồng có thể mất trắng, thậm chí nhiều hộ còn đứng trước nguy cơ không đủ bù chi phí sau cả một vụ mùa vất vả.
2. Gánh nặng chi phí đầu vào, tiền lời từ cây lúa ngày càng ít
Chưa bao giờ nghịch lý “chi phí đi thang máy, giá lúa đi thang bộ” lại hiện rõ mồn một như vụ hè thu năm nay, khi mỗi bao phân bón đưa xuống ruộng đắt ngang ngửa giá trị của cả tạ lúa tươi thu về.
Khởi đầu vụ mùa trong điều kiện thời tiết ẩm ương, mưa nắng thất thường, dịch bệnh như đạo ôn cổ bông, sâu cuốn lá và rầy nâu thi nhau bùng phát dữ dội trên khắp các cánh đồng Tứ giác Long Xuyên. Để cứu lấy 3 ha lúa giống ST khỏi nguy cơ lép hạt, ông Nguyễn Thanh Lộc (xã Hòn Đất, An Giang) đã phải bấm bụng gọi thợ kéo dây xịt thuốc ròng rã 8 lượt trong suốt 90 ngày. Cứ mỗi lần dịch hại ập đến, ngoài tiền thuốc đặc trị đắt đỏ, gia đình lại phải chi thêm hàng trăm nghìn đồng cho mỗi hecta tiền thuê máy bay drone bay xịt, khiến nguồn vốn đầu tư ban đầu bị bào mòn với tốc độ chóng mặt ngay từ khi lúa chỉ mới vừa ôm đòng.

Chi phí vật tư nông nghiệp tăng đang tạo thêm áp lực cho người trồng lúa. Trong đó, giá phân bón – một trong những khoản chi lớn nhất của mỗi vụ mùa – đã tăng đáng kể so với năm trước. Tại nhiều đại lý ở Đồng bằng sông Cửu Long, giá các loại phân bón cả trong nước và nhập khẩu tăng khoảng 5-10% so với cùng kỳ. Đáng chú ý, phân DAP đã lên hơn 1,4 triệu đồng/bao 50 kg, trong khi phân urê cũng ở mức gần 1 triệu đồng/bao.
Giá phân bón tăng đồng nghĩa với việc nông dân phải bỏ ra nhiều tiền hơn ngay từ đầu vụ, trong khi giá bán lúa lại đang đi xuống. Tính chung các khoản chi phí như giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, làm đất, bơm nước và thu hoạch, chi phí sản xuất lúa vụ hè thu hiện vào khoảng 50 triệu đồng/ha, tăng khoảng 10-15% so với những vụ trước.

Trong khi đó, với năng suất bình quân khoảng 6,16 tấn/ha và giá bán chỉ còn 6.200-6.300 đồng/kg, một hecta lúa chỉ mang về khoảng 38-39 triệu đồng doanh thu. Như vậy, số tiền bán lúa thậm chí còn thấp hơn chi phí đầu tư ban đầu. Nếu tính thêm công lao động của gia đình, nhiều hộ không những không có lãi mà còn có nguy cơ thua lỗ vài triệu, thậm chí hàng chục triệu đồng cho mỗi hecta.
Đây là bài toán khó của người trồng lúa hiện nay, nó không chỉ nằm ở việc giá lúa giảm, mà còn ở chỗ chi phí sản xuất ngày càng cao. Khi đầu vào tăng nhưng đầu ra giảm, phần lợi nhuận vốn đã mỏng của nông dân tiếp tục bị thu hẹp, khiến nhiều hộ càng làm nhiều lại càng khó giữ được tiền lời.
3. Vấn nạn đứt gãy liên kết tiêu thụ và hiện tượng thương lái “bẻ kèo”, neo đồng
Hiện tượng thương lái bỏ tiền đặt cọc hoặc đơn phương yêu cầu hạ giá thu mua đã và đang trở thành một thực tế phổ biến gây ra rất nhiều bức xúc trong cộng đồng bà con nông dân.
Theo tập quán thương mại nông nghiệp từ trước đến nay, thương lái thường tiến hành xuống đồng đặt tiền cọc trước thời điểm thu hoạch từ hai đến ba tuần với một mức giá cam kết nhất định, thường chỉ ràng buộc bằng giấy viết tay sơ sài hoặc thậm chí là thỏa thuận miệng. Tuy nhiên, khi thị trường bước vào đợt lao dốc nhanh, các thương lái đứng trước nguy cơ thua lỗ nặng nếu mua đúng giá thỏa thuận ban đầu, từ đó dẫn đến hành vi quay lại ép nông dân phải giảm từ 500 đến 1.000 đồng mỗi kilôgam so với hợp đồng cọc. Trong trường hợp người dân không đồng ý giảm giá, thương lái sẵn sàng chấp nhận bỏ tiền cọc, đẩy người nông dân vào tình thế tiến thoái lưỡng nan khi lúa trên đồng đã chín rộ mà không có người thu mua.

Tình trạng kéo dài thời gian cắt lúa hay còn gọi là hiện tượng neo đồng đang gây ra những thiệt hại kép vô cùng nặng nề đối với cả chất lượng hạt gạo lẫn sản lượng thu hoạch thực tế. Khi thương lái trì hoãn việc đưa máy gặt đập liên hợp vào ruộng với lý do chờ đợi tàu thu mua hoặc chờ đàm phán lại mức giá mới, những bông lúa chín quá ngày bắt đầu bị gãy gục, rụng hạt hàng loạt xuống bùn nước do gặp phải các cơn mưa giông đặc trưng của vụ hè thu. Lúa bị ngập nước hoặc quá lứa thu hoạch không chỉ làm giảm năng suất thực tế từ 10% đến 20% trên mỗi diện tích canh tác, mà còn khiến cho hạt lúa bị lên mầm, biến màu và làm gia tăng tỷ lệ tấm khi đưa vào xay xát, qua đó càng tạo cớ cho thương lái tiếp tục ép giá thu mua xuống mức thấp hơn nữa.

Cũng do thiếu vắng các chế tài pháp lý mang tính ràng buộc chặt chẽ trong hợp đồng bao tiêu nông sản khiến người nông dân luôn là đối tượng phải gánh chịu toàn bộ rủi ro khi thị trường biến động tiêu cực. Mặc dù các mô hình liên kết ba nhà gồm nhà nước, doanh nghiệp và nhà nông đã được tuyên truyền, triển khai trong nhiều năm, nhưng tỷ lệ diện tích lúa được ký kết hợp đồng tiêu thụ chính ngạch với các tập đoàn xuất khẩu lớn vẫn chiếm tỷ trọng khiêm tốn so với tổng diện tích sản xuất toàn vùng. Phần lớn sản lượng lúa hàng hóa vẫn phải luân chuyển qua mạng lưới tầng tầng lớp lớp các thương lái trung gian, biến thị trường lúa tươi thành một sân chơi tự phát đầy bấp bênh, nơi mà mọi rủi ro thị trường đều được dồn ép ngược lại về phía người trực tiếp cầm cuốc trên đồng ruộng.
4. Thị trường xuất khẩu gặp khó, chuỗi tiêu thụ lúa gạo bị ách tắc
Sự chững lại về nhu cầu tiêu thụ tại các thị trường nhập khẩu truyền thống trọng điểm của Việt Nam đã tạo ra một lực cản rất lớn đối với hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp chế biến lúa gạo.
Theo phân tích từ giới chuyên môn và lãnh đạo các doanh nghiệp xuất khẩu lớn như Công ty TNHH Việt Hưng, các đối tác nhập khẩu hàng đầu như Philippines, Trung Quốc cùng một số quốc gia tại khu vực châu Phi đang có xu hướng giảm tốc độ ký kết các hợp đồng giao hàng mới. Nguyên nhân chính bắt nguồn từ việc các quốc gia này đã tiến hành các đợt mua gom dự trữ quy mô lớn trong giai đoạn trước đó, kết hợp với các chính sách kiểm soát lạm phát và ưu tiên sử dụng nguồn lương thực dự trữ nội địa. Khi sức mua từ các thị trường này suy giảm, các nhà xuất khẩu Việt Nam buộc phải điều chỉnh hạ giá chào bán nhằm duy trì tính cạnh tranh với các nguồn cung gạo giá rẻ khác trên thị trường thế giới.

Những số liệu thống kê chính thức từ cơ quan quản lý nhà nước đã phản ánh rất rõ nét sự suy giảm này trên phương diện tổng kim ngạch và giá trị thương mại lúa gạo quốc gia. Theo báo cáo từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường, tính lũy kế đến hết tháng 8, sản lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam đạt khoảng 6,03 triệu tấn với tổng kim ngạch xấp xỉ 2,91 tỷ USD, ghi nhận mức sụt giảm 5% về lượng và giảm tới 10% về mặt giá trị kim ngạch so với cùng kỳ năm trước.
Đáng chú ý hơn cả là mức giá xuất khẩu bình quân của hạt gạo Việt Nam trong giai đoạn này chỉ đạt 481,5 USD cho mỗi tấn, sụt giảm 5,9% so với mức giá bình quân của niên độ trước. Dự báo cho toàn bộ chu kỳ thương mại của năm cho thấy kim ngạch xuất khẩu gạo cả nước ước đạt khoảng 3,94 tỷ USD, ghi nhận mức sụt giảm 4% so với năm 2025, phản ánh rõ ràng bức tranh khó khăn chung của toàn ngành khi giá xuất khẩu những tháng đầu năm liên tục duy trì ở vùng thấp.

Rào cản về hạn mức tín dụng và thanh khoản ngân hàng đang tạo ra một điểm nghẽn nghẹt thở đối với dòng vốn thu mua của các doanh nghiệp kinh doanh lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long. Trong bối cảnh các tổ chức tín dụng siết chặt các điều kiện cho vay và kiểm soát nghiêm ngặt room tín dụng đối với lĩnh vực thương mại nông sản, rất nhiều công ty xuất khẩu không thể tiếp cận được nguồn vốn lưu động kịp thời với lãi suất ưu đãi để giải ngân thu mua lúa tạm trữ cho nông dân khi vào vụ rộ.
Khi dòng tiền của doanh nghiệp bị phong tỏa, các nhà máy chế biến gạo buộc phải thu hẹp quy mô nhập hàng hoặc kéo dài thời gian thanh toán cho thương lái. Chuỗi chuyển dịch tiền tệ bị đứt gãy từ trên xuống dưới này đã trực tiếp bóp nghẹt khả năng tiêu thụ lúa tươi tại ruộng, tạo nên áp lực bán tháo vô cùng lớn từ phía người nông dân.
5. Giá lúa giảm kéo theo nhiều hệ lụy cho kinh tế nông hộ
Tình trạng thua lỗ kéo dài trong sản xuất lúa nước không chỉ làm “xói mòn” nguồn lực tài chính của từng gia đình nông dân mà còn tiềm ẩn nguy cơ gây mất ổn định cơ cấu sản xuất nông nghiệp trong tương lai.
Suy giảm nguồn thu nhập khiến hàng loạt nông hộ rơi vào vòng xoáy nợ nần dai dẳng và đánh mất khả năng tái đầu tư sản xuất cho các mùa vụ kế tiếp. Để có tiền mua phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và trang trải chi phí máy móc đầu vụ, phần lớn người nông dân miền Tây đều phải mua chịu vật tư tại các đại lý nông dược ở địa phương với cam kết thanh toán sau khi thu hoạch lúa kèm theo mức lãi suất thỏa thuận.

Khi giá lúa bất ngờ sụt giảm sâu khiến tiền bán lúa không đủ bù đắp chi phí ban đầu, người dân buộc phải khất nợ hoặc phải tìm đến các nguồn vốn tín dụng phi chính thức với lãi suất đắt đỏ để chi trả, khiến cho kinh tế nông dân bị suy kiệt hoàn toàn, khiến họ không còn đủ nguồn lực để đầu tư cải tạo đất, mua sắm giống chất lượng cao hay áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật cho vụ mùa thu đông và đông xuân tiếp theo.
Nguy cơ nông dân chán nản, bỏ ruộng hoang hoặc chuyển đổi mục đích sử dụng đất một cách tự phát, thiếu quy hoạch đang dần hiện hữu tại nhiều địa phương vùng sâu vùng xa. Khi hạt lúa không còn đảm bảo được cuộc sống ấm no tối thiểu mà liên tục mang lại những âu lo và gánh nặng nợ nần, nhiều lao động trẻ tại khu vực nông thôn Đồng bằng sông Cửu Long đã quyết định rời bỏ đồng ruộng để lên các đô thị lớn tìm kiếm việc làm tại các khu công nghiệp. Tình trạng thiếu hụt lao động nông nghiệp chất lượng cao, kết hợp với làn sóng chuyển đổi đất trồng lúa sang các loại cây trồng hoặc mô hình thủy sản tự phát mà không theo định hướng quy hoạch của ngành nông nghiệp, có thể phá vỡ tính bền vững của quy hoạch vùng trồng và đe dọa trực tiếp đến mục tiêu bảo đảm an ninh lương thực quốc gia trong dài hạn.

Sự xáo trộn này cũng sẽ làm suy giảm đáng kể năng lực cạnh tranh tổng thể của thương hiệu lúa gạo quốc gia trên thị trường thương mại toàn cầu. Khi người trồng lúa không có lợi nhuận thỏa đáng, việc khuyến khích bà con tuân thủ các quy trình canh tác hữu cơ, quy chuẩn xuất khẩu khắt khe như VietGAP, GlobalGAP hay các tiêu chuẩn giảm phát thải khí nhà kính theo đề án phát triển bền vững một triệu hecta lúa chất lượng cao sẽ gặp phải những rào cản tâm lý và tài chính vô cùng lớn, dẫn tới sự suy giảm đồng đều về chất lượng hạt gạo nguyên liệu, làm suy yếu nền tảng phát triển bền vững mà ngành nông nghiệp Việt Nam đã dày công gây dựng trong suốt những năm qua.
6. Đâu là giải pháp dành cho nông dân miền Tây?
Để thoát khỏi vòng luẩn quẩn “được mùa mất giá”, ngành lúa gạo miền Tây không thể tiếp tục trông chờ vào các biện pháp giải cứu hay hỗ trợ tình thế khi giá đã chạm đáy. Nền tảng cốt lõi nằm ở việc tái cấu trúc toàn diện chuỗi giá trị, bắt đầu từ khâu tiết giảm chi phí sản xuất, thắt chặt liên kết tiêu thụ, khơi thông dòng vốn tín dụng, cho đến đầu tư chế biến sâu và xây dựng chuỗi liên kết bền vững với doanh nghiệp.
Trước hết, nông dân cần kiểm soát và giảm chi phí sản xuất ngay từ đầu vụ. Khi giá bán lúa biến động, tiết giảm chi phí là một trong những cách thiết thực nhất để bảo vệ lợi nhuận cho nông dân. Các địa phương cần đẩy mạnh những mô hình canh tác giảm giống, giảm phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và nước tưới nhưng vẫn đảm bảo năng suất. Ứng dụng máy móc, drone, tưới tiết kiệm nước hay các quy trình canh tác hiện đại cũng cần được nhân rộng để giảm lượng nhân công và chi phí đầu vào.
Đặc biệt, nông dân không nên chạy theo năng suất bằng mọi giá mà cần quan tâm nhiều hơn đến hiệu quả trên mỗi hecta. Một vụ lúa cho năng suất cao nhưng phải sử dụng quá nhiều phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và chi phí chăm sóc chưa chắc mang lại lợi nhuận tốt. Khi tính toán được đầy đủ chi phí và lợi nhuận thực tế, người dân sẽ có cơ sở để lựa chọn giống lúa, lịch thời vụ và phương thức canh tác phù hợp hơn.

Thứ hai, cần củng cố liên kết giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp để hạn chế tình trạng “bẻ kèo”, ép giá. Đây là một trong những điểm yếu lớn của chuỗi lúa gạo hiện nay. Nếu nông dân vẫn sản xuất riêng lẻ, đến ngày thu hoạch mới tìm người mua thì gần như luôn ở thế yếu khi thương lượng giá.
Thay vì vậy, các hợp tác xã cần trở thành đầu mối tập hợp sản lượng, kiểm soát chất lượng và ký hợp đồng tiêu thụ với doanh nghiệp từ trước khi xuống giống. Hợp đồng bao tiêu cũng cần quy định rõ giá mua, thời điểm thu hoạch, phương thức thanh toán và trách nhiệm của mỗi bên khi thị trường biến động. Những trường hợp tự ý thay đổi giá hoặc trì hoãn thu mua sau khi đã ký kết cần có cơ chế xử lý đủ rõ để bảo vệ quyền lợi của người sản xuất.
Có hợp đồng chặt chẽ, nông dân sẽ chủ động hơn trong sản xuất, còn doanh nghiệp cũng có nguồn nguyên liệu ổn định, đồng đều về chất lượng. Đây mới là nền tảng để hạn chế tình trạng thương lái “neo đồng” hoặc người dân phải bán tháo lúa ngay trong thời điểm thu hoạch rộ.

Thứ ba, cần có chính sách tín dụng phù hợp để doanh nghiệp đủ vốn thu mua lúa trong thời điểm chính vụ. Giá lúa giảm không chỉ xuất phát từ cung vượt cầu mà còn liên quan trực tiếp đến khả năng thu mua của doanh nghiệp. Khi doanh nghiệp thiếu vốn, lượng lúa lớn cùng lúc được đưa ra thị trường sẽ tạo áp lực rất lớn lên giá.
Do đó, cần tạo điều kiện để các doanh nghiệp, hợp tác xã và đơn vị thu mua có thể tiếp cận nguồn vốn lưu động với thủ tục thuận lợi và chi phí hợp lý trong thời gian thu hoạch cao điểm. Nguồn vốn này giúp doanh nghiệp chủ động mua lúa, dự trữ, chế biến và chờ thời điểm thị trường thuận lợi thay vì phải bán ra ngay.
Song song với đó, các chính sách hỗ trợ tín dụng cho nông dân cũng cần hướng đến việc giảm sự phụ thuộc vào hình thức mua chịu vật tư. Khi có nguồn vốn sản xuất phù hợp, người dân sẽ giảm nguy cơ phải vay nóng hoặc chịu áp lực trả nợ ngay sau khi thu hoạch.

Thứ tư, cần xây dựng hệ thống thông tin thị trường minh bạch để nông dân có thể chủ động hơn trước biến động giá. Một trong những bất lợi lớn của người trồng lúa là thường biết giá thị trường quá muộn. Khi lúa đã chín và cần thu hoạch gấp, khả năng lựa chọn của người dân gần như không còn.
Vì vậy, thông tin về giá lúa, nhu cầu thu mua, sản lượng dự kiến, thị trường xuất khẩu và lịch thu hoạch cần được cập nhật thường xuyên, dễ tiếp cận đến từng vùng sản xuất. Hợp tác xã và cơ quan chuyên môn có thể đóng vai trò kết nối thông tin giữa doanh nghiệp và nông dân, giúp người dân biết trước tình hình thị trường để cân nhắc thời điểm xuống giống và lựa chọn giống phù hợp.
Dự báo cung cầu cũng cần được thực hiện tốt hơn. Nếu nắm được nhu cầu của thị trường xuất khẩu và khả năng tiêu thụ trong nước, ngành lúa gạo có thể chủ động điều tiết sản xuất, hạn chế tình trạng hàng trăm nghìn hecta cùng thu hoạch trong một thời điểm rồi đồng loạt chịu áp lực giảm giá.

Thứ năm, cần đẩy mạnh chế biến sâu và nâng giá trị hạt gạo thay vì chỉ tập trung bán lúa nguyên liệu. Nếu phần lớn sản lượng vẫn được bán dưới dạng lúa tươi ngay sau thu hoạch, nông dân sẽ rất khó thoát khỏi cảnh phụ thuộc vào giá thu mua tại ruộng.
Doanh nghiệp cần đầu tư mạnh hơn vào hệ thống sấy, kho chứa, xay xát, bảo quản và chế biến sâu để kéo dài thời gian lưu trữ, giảm áp lực phải bán ngay trong chính vụ. Cùng với đó là phát triển các dòng sản phẩm có giá trị cao như gạo chất lượng cao, gạo hữu cơ, gạo đặc sản và các sản phẩm chế biến từ gạo.
Khi hạt gạo có thương hiệu và tiếp cận được những phân khúc có giá trị cao hơn, phần giá trị tạo ra trong chuỗi cũng có cơ hội được phân bổ tốt hơn cho người sản xuất. Đây là hướng đi quan trọng nếu ngành lúa gạo Việt Nam muốn giảm sự phụ thuộc vào cuộc cạnh tranh bằng giá rẻ trên thị trường quốc tế.

Cuối cùng, cần thay đổi cách nhìn về sản xuất lúa theo hướng lấy lợi nhuận và tính bền vững làm mục tiêu thay vì chỉ chạy theo sản lượng. Người nông dân cần được hỗ trợ để chuyển từ sản xuất manh mún sang sản xuất theo vùng nguyên liệu, theo tiêu chuẩn và theo nhu cầu thực tế của thị trường.
Các mô hình sản xuất lúa chất lượng cao, giảm phát thải, tiết kiệm nước và sử dụng vật tư hợp lý cần tiếp tục được mở rộng. Tuy nhiên, muốn người dân tham gia lâu dài thì điều kiện tiên quyết vẫn là họ phải có lợi nhuận. Không thể yêu cầu nông dân đầu tư nhiều hơn cho chất lượng, môi trường và tiêu chuẩn sản xuất nếu giá bán cuối cùng không đủ bù đắp chi phí.
Nhà nước cần tạo hành lang và chính sách hỗ trợ; ngân hàng đảm bảo dòng vốn; doanh nghiệp chủ động đầu tư vào vùng nguyên liệu và thị trường; hợp tác xã làm tốt vai trò kết nối; còn nông dân từng bước thay đổi phương thức sản xuất.
Khi những mắt xích này được kết nối chặt chẽ, người trồng lúa mới có thể giảm bớt rủi ro trước những đợt biến động giá, thay vì cứ đến mùa thu hoạch lại thấp thỏm chờ thương lái.
Đó cũng là điều kiện cần để ngành lúa gạo miền Tây phát triển ổn định hơn, nâng cao giá trị hạt gạo Việt Nam và xây dựng một chuỗi sản xuất bền vững hơn trong những năm tới.

Giá lúa giảm trong khi chi phí sản xuất tăng đang khiến nông dân miền Tây đối mặt với nhiều áp lực về thu nhập và đầu ra. Để ngành lúa gạo phát triển bền vững, cần sự đồng hành chặt chẽ từ Nhà nước, doanh nghiệp, hợp tác xã và người nông dân nhằm ổn định thị trường, giảm chi phí và nâng cao giá trị hạt gạo.
Hy vọng với những chia sẻ của Gạo Tường Phát sẽ giúp bà con có cái nhìn toàn diện hơn và có thêm nhiều kinh nghiệm để vượt qua khó khăn lần này nhé!
Thông tin liên hệ Tường Phát:
Hotline: 0909.61.45.69
Website: https://gaotuongphat.com/
Fanpage: https://www.facebook.com/gaotuongphat
106 Lô F Hoàng Diệu, Phường 9, Quận 4
gaotuongphat@gmail.com

